Trang chủ Tài liệu học tập ĐỀ THI TN THPT NĂM HỌC 2011-2012 THAM KHẢO
ĐỀ THI TN THPT NĂM HỌC 2011-2012 THAM KHẢO
Xem kết quả: / 19
Bình thườngTuyệt vời 


ĐỀ THAM KHẢO

KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2012

 Môn thi: Ngữ văn 12 – Giáo dục THPT

Thời gian làm bài: 150 phút – không kể thời gian giao đề

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)
Những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Ơ-nit. Hê - minh -uê ?  

Câu 2: (3,0 điểm)

“ Ai đã từng cắp sách đến trường cũng đều có ước mơ mình trở thành một sinh viên đích thực. Thế nhưng con đường mà bạn sẽ đi không mang tên Đại học thì suy nghĩ của bạn sẽ như thế nào ? ”

Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh, chị về vấn đề trên .

II. PHẦN RIÊNG – PHẦN TỰ CHỌN (5 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3a hoặc câu 3b)

Câu 3a:   (5,0 điểm)

Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành (SGK Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2009)

Câu 3b. (5,0 điểm)

Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:

"Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm hôm bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nên cối đều đều suối xa…"

-Hết-

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm

Họ và tên thí sinh: …………………………. Số báo danh:……………………..

Chữ ký của giám thị 1:…………………………          Chữ ký của giám thị 2:……………


KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2012

Môn thi: Ngữ văn

HƯỚNG DẪN CHẤM THI

I. Hướng dẫn chung

- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh chấm đếm ý cho điểm.

- Do đặc trưng bộ môn Ngữ văn nên giáo viên cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.

- Việc chi tiết hóa số điểm của các ý ( nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi ý và được thống nhất của tổ chuyên môn.

- Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5

- Thang điểm thấp nhất là 0,25 điểm.

II. Đáp án và thang điểm

ĐÁP ÁN


Câu 1

a. Cuộc đời :

- Ơ- nít Hê- minh-uê (1899-1961) sinh tại bang I-li-noi – Mĩ , trong một gia đình tri thức. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông đi làm phóng viên.

- Tham gia tích cực chống chiến tranh thế giới lần thứ 1,2

- Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cảm thấy mình là thế hệ mất mát, khó hoà nhập với cuộc sống đương thời, tìm sự bình yên trong men rượu và tình yêu.

- Sang Pháp, làm báo và sáng tác, 1926 cho ra đời cuốn tiểu thuyết “Mặt trời vẫn mọc”

b. Sự nghiệp văn học :

- Có đóng góp lớn trong việc đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết trong nền văn học thế giới; là người đề ra nguyên lí sáng tác “tảng băng trôi”: coi tác phẩm nghệ thuật như một tảng băng trôi (1 phần nổi, 7 phần chìm), người đọc tự khám phá phần chìm để thấy được ý nghĩa và giá trị của tác phẩm. Dù viết về đề tài gì, nhà văn cũng hướng đến mục đích “ viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.

- Tác phẩm tiêu biểu: “Mặt trời vẫn mọc” (1926), “Giã từ vũ khí” (1929), “Chuông nguyện hồn ai” (1940), “Ông già và biển cả” (1952),…

- Hê-minh-uê được nhận giải Pu-lit-dơ (1953) và giải Nô-ben văn học (1954)…

 

 

Câu 2

“ Ai đã từng cắp sách đến trường cũng đều có ước mơ mình trở thành một sinh viên đích thực. Thế nhưng con đường mà bạn sẽ đi không mang tên Đại học thì suy nghĩ của bạn sẽ như thế nào ? ”

a. Yêu cầu về kĩ năng: Vận dụng phương pháp làm bài văn Nghị luận xã hội về một tư  tưởng đạo lí. Kết cấu chặt chẽ,diễn đạt sáng rõ trôi chảy, hạn chế tối đa việc mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có nhiều cách trình bày khác nhau song cần làm  rõ  được các ý chính sau:

- Nêu được vấn đề cần nghị luận : Vào đại học là mơ ước của nhiều học sinh , sinh viên nhưng đó không phải là con đường tiến thân duy nhất.

- Thân bài : Cần có các ý sau :

- Không nên nhìn vào người khác , người ta vào đại học thì mình phải vào . Không nhất thiết như thế mới là thành công .

- Không nên tạo áp lực cho bản thân , phải biết nhìn nhận thực tế , nhìn thẳng vào hoàn cảnh gia đình và năng lực bản thân .

- Nếu biết vươn lên hoàn cảnh thì cơ hội sẽ tìm đến với chính mình .

- Không nên có những suy nghĩ cực đoan sẽ làm mất đi định hướng của tương lai .

- Trong mọi chặng đường của cuộc sống , chỉ có con đường do chính ta lực chọn ,mới là con đường đúng nhất . Cánh cửa vào đời luôn rộng mở cho những ai có ước mơ và hoài bão lớn. Không đỗ đại học, có thể học lên bằng con đường vào trung cấp, cao đẳng sau đó học liên thông, nâng cao trình độ. Kể cả học nghề và đi làm nghề cũng là cơ hội tốt trong nay mai, khi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang cần lắm những đối tượng có chuyên môn nghề nghiệp cao.

- Dẫn chứng : Nhiều người không chọn con đường đại học vẫn thành công như : Bill – Gates – tập đoàn Microsoft lớn nhất thế giới , Các nhà văn như Nam Cao , Tô Hoài …. Chưa một lần đặt chân vào nơi được gọi là Đại học vẫn trở thành những nhà văn bất hủ.

Kết bài : Chốt lại vấn đề , liên hệ bản thân để định hướng cho tương lai.

 

 

 

 

 

 

 

 

Câu 3a

………….

Câu 3b

Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành (SGK Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2009)

  1. a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi: phân tích được vẻ đẹp của nhân vật trong một tác phẩm. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

  1. b. Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Nguyễn Trung Thành, truyện ngắn Rừng xà nu và nhân vật Tnú trong tác phẩm, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ những ý cơ bản sau:

- Nêu được vấn đề nghị luận

- Tnú là người có tính cách trung thực, gan góc, dũng cảm, mưu trí:

+ Giặc giết bà Nhan, anh Xút nhưng Tnú (lúc bấy giờ còn nhỏ) không sợ. Tnú vẫn cùng Mai xung phong vào rừng nuôi giấu cán bộ.

+ Học chữ thua Mai, Tnú đập vỡ bảng, lấy đá đập vào đầu đến chảy máu.

+ Khi đi liên lạc không đi đường mòn mà “xé rừng mà đi”, không lội chỗ nước êm mà “lựa chỗ thác mạnh vượt băng băng như con cá kình”. Bởi theo Tnú những chỗ nguy hiểm giặc “không ngờ” đến.

+ Bị giặc phục kích bắt, bị tra tấn dã man nhưng Tnú quyết không khai. Khi bọn giặc kéo về làng, bắt Tnú khai cộng sản ở đâu anh đặt tay lên bụng dõng dạc nói “cộng sản ở đây này”.

- Tnú là người có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng

+ Tham gia lực lượng vũ trang, nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng khi được phép của cấp trên mới về thăm.

+ Tính kỉ luật cao trong mối quan hệ với cách mạng biểu hiện thành lòng trung thành tuyệt đối: khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt gan ruột nhưng Tnú không kêu nửa lời, anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết : “người cộng sản không thèm kêu van”.

-  Một trái tim yêu thương và sục sôi căm giận

+ Tnú là một người sống rất nghĩa tình : Tnú đã tay không xông ra cứu vợ con. Động lực ghê gớm ấy chỉ có thể được khơi nguồn từ trái tim cháy bỏng ngọn lửa yêu thương và ngọn lửa căm thù. Tnú là con người tình nghĩa với buôn làng: anh lớn lên trong sự đùm bọc yêu thương của người dân làng Xôman.

+ Lòng căm thù ở Tnú mang đậm chất Tây Nguyên: Tnú mang trong tim ba mối thù :  Thù của bản thân;  Thù của gia đình; Thù của buôn làng

-  Ở Tnú, hình tượng đôi bàn tay mang tính cách, dấu ấn cuộc đời

+ Khi lành lặn : đó là đôi bàn tay trung thực, nghĩa tình (bàn tay cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho ; bàn tay cầm đá  đập vào đầu mình để tự trừng phạt vì học hay quên chữ ...

+ Khi bị thương : đó là chứng tích của một giai đoạn đau thương, của thời điểm lòng căm hận sôi trào  “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy trong bụng”. Đó cũng là bàn tay trừng phạt, bàn tay quả báo khi chính đôi bàn tay tàn tật ấy đã bóp chết tên chỉ huy đồn giặc trong một trận chiến đấu của quân giải phóng.

-  Hình tượng Tnú điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên làm sáng tỏ chân lí của thời đại đánh Mĩ : “chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo”.

+  Bi kịch của Tnú khi chưa cầm vũ khí là bi kịch của người dân STrá khi chưa giác ngộ chân lý (bà Nhan, anh Xút). Tnú là người có thừa sức mạnh cá nhân nhưng anh vẫn thất bại đau đớn khi không có vũ khí. Với bàn tay không có vũ khí trước kẻ thù hung bạo anh đã không bảo vệ được vợ con và bản thân.

+ Tnú chỉ được cứu khi dân làng Xôman đã cầm vũ khí đứng lên. Cuộc đời bi tráng của Tnú là sự chứng minh cho chân lí : phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng.

+ Con đường đấu tranh của Tnú từ tự phát đến tự giác cũng là con đường đấu tranh đến với cách mạng của làng Xôman nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung.

- Đánh giá chung về nhân vật và giá trị của tác phẩm.

……………………………………………………………………………..

Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:

…………………………………..

a. Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài về một đoạn thơ, bài thơ: phân tích được vẻ đẹp của đoạn thơ: nỗi nhớ trong hoài niệm của nhà thơ về cảnh, về người và cuộc sống sinh hoạt gian khó nhưng thật nghĩa tình và thơ mộng ở chiến khu Việt Bắc. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b.Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở những hiểu biết vềnhà thơ Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ những ý cơ bản sau:

- Nêu được vấn đề nghị luận.

- Trong hoài niệm của nhà thơ Việt Bắc không chỉ những ngày mưa rừng, sương núi mà còn một vùng đất thơ mộng, thanh bình, yên ả, gợi bao nỗi nhớ niềm thương.

+ Nhớ về Việt Bắc như nhớ người yêu. Đó là nỗi nhớ cồn cào, da diết khôn nguôi…

+ Nhớ những đêm trăng sáng yên ả, thanh bình, những buổi chiều nắng trải vàng ấm áp trên nương, nhớ cảnh núi đèo, bản làng chìm trong sương khói, cảnh bếp lửa bập bùng trong đêm đông và hình ảnh con người thân thương, tảo tần đi về hôm sớm…

+ Nhớ con người Việt Bắc nghèo nhưng nghĩa tình sâu nặng: Những người cùng gánh vác trên vai mối thù đế quốc, cay đắng, ngọt bùi, bát cơm, manh áo chia sẻ có nhau ấm tình quân dân như cá với nước trong đại gia đình dân tộc (người mẹ Việt bắc).

- Cuộc sống của đồng bào và cán bộ chiến sĩ ở Việt Bắc đầy khó khăn gian khổ nhưng tinh thần lại rất  lạc quan, yêu đời, gắn bó bên nhau: Nhớ lớp học i tờ, nhớ những giờ liên hoan, nhớ ngày tháng ở cơ quan…

- Nghệ thuật: Sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ dân tộc (lục bát), cách hô gọi ta – mình gần gũi thân thuộc…

- Đánh giá chung về đoạn thơ và giá trị bài thơ. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

………….

 

 

 

 

 

 

 

 
Đang online: 3 - Hôm nay: 10 - Hôm qua: 194 - Tuần này: 693 - Tháng này: 2803 - Tổng cộng: 1805767
IP của bạn: 54.163.20.57 - Trình duyệt:   - Hệ điều hành: